NĂM PHƯƠNG PHÁP HỌC TỐI ƯU

Nhờ các cuộc thử nghiêm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCTs) đã được thực hiện để kiểm định những giả thuyết về trí nhớ và nhận thức trong ngành Tâm lý học, giờ đây, chúng ta có thể chắc chắn rằng, khi áp dụng năm bí quyết dưới đây vào việc học tập, người học sẽ có thể lưu trữ thông tin lâu hơn và áp dụng kiến thức tốt hơn trong các tình huống khác nhau. Hơn nữa, các thầy cô giáo cũng có thể áp dụng những thông tin dưới đây để giúp học sinh học tập hiệu quả hơn.

I. LỊCH SỬ NGẮN VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÍ NHỚ

1. EBBINGHAUS (1885)

Nếu nhắc đến trí nhớ thì không thể nào không nhắc đến Hermann Ebbinghaus – nhà nghiên cứu đầu tiên đã tìm hiểu về bộ nhớ của con người. Vào năm 1885, Ebbinghaus thực hiện một chuỗi các cuộc thí nghiệm ngắn về trí nhớ lên chính bản thân mình. Từ kết quả của của các cuộc thí còn nhiều hạn chế này, ông vẽ lên một đồ thị, gọi là “đường cong của việc quên” (forgetting curve).

Hinh 1: Đồ thị “đường cong của việc quên” của Ebbinghaus 

Nhìn vào đường cong của đồ thị này, ta có thể thấy được khả năng lưu trí ký ức giảm rất nhanh sau một vài giây. Điều này hiển thị rằng những mảnh thông tin được học và lưu trữ sớm sẽ có thể được nhớ lại dễ dàng nhất. Tuy nhiên, khả năng truy cập lại thông tin trong bộ nhớ sẽ giảm rất nhanh nếu người học không cố gắng ôn lại những thông tin đó.

2. BJORK & BJORK (1992)

Rõ ràng công trình nghiên cứu của Ebbinghaus là một trong những thí nghiệm sơ khai về trí nhớ, còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, vào năm 1992, Bjork và Bjrok đặt ra một lý thuyết mới về bộ nhớ của con người với tên gọi “Lý thuyết về việc không sử dụng” (Theory of disuse). Trong lý thuyết này, Bjrok và Bjrok phân biệt hai khả năng: lưu trữ (storage) và truy cập (retrieval). Trong đó, sức mạnh của khả năng lưu trữ phụ thuộc vào độ liên kết của của mảnh thông tin đó với những thông tin/kiến thức hiệu hữu khác trong bộ nhớ. Mặt khác, sức mạnh của khả năng truy cập lại bị ảnh hưởng nhiều bởi các tín hiệu trong môi trường, bối cảnh của nơi người học cần thu hồi thông tin, và thời lượng khoảng thời gian đã trôi qua kể từ khi mảnh ký ức đó được ghi nhớ lần đầu tiên.

Đọc thêm ở đây: Forgetting as a friend of learning: implications for teaching and self-regulated learning (Bjork, 2013)

Học sinh thường có xu hướng nhầm lẫn giữa khả năng lưu trữ và khả năng truy cập. Người học thường có quan điểm rằng nếu họ có thể nhớ (truy cập) được môt thông tin nào đó tức là họ đã học được kiến thức đó. Tuy nhiên để học được thông tin nào, người học phải thật sự lưu trữ thông tin đó một cách kỹ càng trong bộ nhớ. Và để đảm bảo rằng thông tin đã được lưu trữ sâu và an toàn trong ký ức, các bạn học sinh, sinh viên cần phải tạo ra cho mình những “khó khăn hữu ích”, bằng cách áp dụng năm phương pháp sau đây.

II. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC HỌC TẬP

1. HỌC TRONG NHIỀU ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG KHÁC NHAU

Nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng học trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau sẽ tăng sức mạnh của khả năng lưu trữ, giúp người học có thể truy cập thông tin từ bộ nhớ dễ dàng hơn tại những thời điểm, tình huống khác nhau. Ví dụ, Smith et al (1978) đã phát hiện ra rằng nhóm học sinh được yêu cầu học một đoạn văn ở hai phòng khác nhau có thể nhớ được đoạn văn đó tốt hơn là nhóm học sinh học được yêu cầu học một đoạn văn hai lần tại cùng một phòng học.

Trong một cuộc thí nghiệm khác bởi Kerr và Booth (1978), hai nhà nghiên cứu này đã mời hai nhóm học sinh tham gia luyện tập ném bóng. Nhóm thứ nhất luyện ném tại một độ xa nhất định – 90m. Nhóm thứ hai tập ném ở hai độ xa khác nhau: 60m và 120m. Sau khi tập ném, cả hai nhóm đều phải thực hiện bài kiểm tra ném ở độ xa 90m. Có thể chúng ta sẽ đoán rằng nhóm tập ném ở độ xa 90m sẽ thực hiện chính xác hơn khi làm bài kiểm tra. Tuy nhiên, điều ngược lại mới là chính xác.

Đọc thêm ở đây: Specific and varied practice for motor skills (Kerr & Booth, 1978)

2. HỌC CÁCH QUÃNG THAY VÌ HỌC DỒN NÉN

Học dồn nén (massing) ở đây có nghĩa là tập trung học rất nhiều thông tin trong cùng một ngày học. Nhiều học sinh có xu hướng nhồi nhét rất nhiều thông tin, kiến thức vào đầu trong buổi tối hôm trước ngày làm bài kiểm tra. Vì những thông tin này còn mới, khoảng thời gian diễn ra từ lúc học đến lúc làm bài còn ngắn, nên việc truy cập thông tin có thể thực hiện không mấy khó khăn. Do đó, nhiều bạn học sinh sử dụng phương pháp này để làm bài được điểm cao và nghĩ rằng đây là một phương pháp học tốt. Tuy nhiên, những kiến thức mà chỉ được đọc qua một vài lần, bị học một cách dồn nén, không thể hình thành được mối liên kết với những thông tin, kiến thức hiện hữu khác trong bộ nhớ. Đó là lý do vì sao, rất nhiều bạn sau khi học và làm bài kiểm tra xong, không thể nhớ được năm ngoái, hay thậm chí là tháng trước, tuần trước mình vừa học về vấn đề gì.

Ngược lại, học cách quãng (spacing) là một phương pháp học rất tốt mà bạn có thể áp dụng nếu như mục tiêu của bạn là thật sự học để nắm vững kiến thức và thông tin đó, để có thể nhớ và áp dụng trong một tương lai xa.

Schuell và Bloom (1981) thực hiện một cuộc thí nghiệm về vân đề này. Họ mời hai nhóm học sinh tham gia học 20 từ vựng Pháp-Anh trong vòng 30 phút. Nhóm thứ nhất học 20 từ trong 30 phút liên tục. Nhóm thứ hai học 10 phút mỗi ngày, trong vòng 3 ngày. Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy, khi cả hai nhóm tham dự bài kiểm tra đầu tiên, được tổ chức ngay sau khi nhóm hai học hết 10’ trong ngày 3, kết quả làm bài kiểm tra của cả hai nhóm là tương đương nhau. Một tuần sau đó, cả hai nhóm đều được mời làm bài kiểm tra lại. (Đây là bà kiểm tra bất ngờ, không được báo trước. Học sinh không có cơ hội ôn bài trước khi kiểm tra.) Tại bài kiểm tra thứ hai, nhóm học từ vựng theo phương pháp cách quãng thực thực hiện bài thi tốt hơn hẳn nhóm học dồn nén (15/20 so với 11/20).

Đọc thêm ở đây: Effects of masses and distributed practice on the learning and retention of second-language vocabulary (Bloom & Booth, 1981)

3. HỌC XEN KẼ THAY VÌ HỌC THEO NHÓM 

Học theo nhóm (blocking) có nghĩ là học rất nhiều thông tin về cùng một bộ môn một lúc (vd: luyện giải một hằng đẳng thức trong vòng 2h). Khoa học đã chứng mình rằng phương pháp này không thể giúp tối ưu hóa việc học tập của chúng ta. Thay vào đó, các bạn học sinh, sinh viên được khuyến khích nên học xen kẽ (interleaving) nhiều học phần trong cùng một ngày học. Ví dụ: học Đại số 30’, học Lượng giác 30’, ôn Giải tích 30’, học Hình học 30’.  Bằng cách học xen kẽ các môn học, học phần khác nhau, các bạn cũng có thể đồng thời áp dụng phương pháp học cách quãng như đã giới thiệu bên trên.

Khi học xen kẽ các môn, chúng ta đang tạo ra những khó khăn có ích. Phương pháp học xen kẽ ép người học phải ứng phó với việc loạn, nhiễu thông tin tạm thời, và phải cố gắng tìm ra điểm tương đồng giữa các điểm khác biệt.

Simon và Bjork (2001) báo cáo rằng học sinh thường chủ quan và có xu hướng đánh giá quá cao khả năng lưu trữ và truy cập thông tin khi họ học theo nhóm. Tuy nhiên, kết quả từ cuộc nghiên cứu của Rohrer và Taylor (2007) đã đưa ra bằng chứng chống lại niềm tin thiếu chính xác này. Trong cuộc thí nghiệm, các nhà nghiên cứu yêu cầu các bạn học sinh học công thức tính thể tích của 4 hình khối khác nhau. Một nhóm học theo dạng nhóm còn một nhóm học theo dạng xen kẽ. Kết quả bài kiểm tra một tuần sau khi học cho thấy, nhóm học theo dạng xen kẽ giải được nhiều câu hỏi chính xác (63%) hơn là những học sinh học theo dạng nhóm (20%).

Đọc thêm ở đây: The shuffling of mathematics problems improves learning (Rohrer & Taylor, 2007)

4. THI THỬ

Thi thử (testing) là phương pháp học tối ưu nhất có thể giúp người học nâng cao khả năng lưu trữ thông tin. Tuy nhiên, phương pháp này rất ít khi được áp dụng. Thi thử rất có lợi vì nó buộc bạn phải thực tập truy cập những thông tin đã học, giúp bạn tìm ra được những lỗ hổng kiến thức, tạo nền tảng cho việc ôn tập lại. Hiệu ứng “Tiềm năng của bài kiểm tra” (test potentiation learning) để cập đến việc khi ta học lại một mảnh thông tin nào đó mà ta đã được kiểm tra qua, mảnh thông tin đó sẽ được hiểu rõ hơn, nhớ sâu hơn, và có thể được truy cập lại một cách dễ dàng hơn trong tương lai xa.

Roediger và Karpicke (2006) thực hiện một cuộc thí nghiệm để kiểm chứng độ hiểu quả của việc thi thử. Họ mời ba nhóm học sinh tham gia học một đoạn văn. Trong đó, nhóm một học đoạn văn ấy 4 lần (gọi tắt là nhóm SSSS); nhóm hai học đoạn văn ấy 3 lần và thi thử 1 lần (SSST); còn nhóm ba học đoạn văn ấy 1 lần và thi thử 3 lần (STTT). Các nhà nghiên cứu yêu cầu học sinh dự đoán khả năng nhớ của cả ba nhóm. Phần lớn các học sinh đồng ý rằng nhóm một – SSSS – sẽ có thể nhớ đoạn văn này tốt nhất, trong khi nhóm ba – STTT – sẽ nhớ đoạn văn này kém nhất.

Dự đoán này của các bạn học sinh là chính xác khi cả ba nhóm thực hiện bài kiểm đầu tiên (5’ sau khi học/thi). Tuy nhiên, khi làm bài kiểm tra thứ hai, một tuần sau khi học/thi, nhóm STTT là nhóm có thể nhớ được đoạn văn tốt nhất, trong khi nhóm SSSS nhớ đoạn văn ấy kém nhất.

Đọc thêm ở đây: Test-enhanced learning (Roediger & Karpicke, 2006)

5. TRUY CỨU. ĐẶT CÂU HỎI (ELABORATIVE QUESTIONING)

Để có thể hiểu rõ và nhớ lâu các kiến thức thức mới, người học cần tích cực tham gia vào việc học. Một trong những cách các bạn có thể áp dụng là tự đặt ra những thắc mắc, các câu hỏi cho bạn thân và tự truy cứu, suy nghĩ về câu trả lời. Để có thể tìm được đáp án chính xác cho thắc mắc của bản thân về một vấn đề mới, bạn đang tự ép mình phải suy nghĩ và vận dụng những kiến thức hiện hữu có liên quan. Làm việc này tức là bạn đang gây khó khăn cho bản thân và sẽ khiến bạn đọc chậm hơn. Tuy nhiên, nó sẽ giúp bạn hiểu rõ, nhớ sâu và truy cập thông tin một cách dễ dàng hơn hơn tương lai xa.

a) THẨM VẤN TINH XẢO (ELABORATIVE INTERROGATION):

Smith và đồng nghiệp (2010) đã tuyển một nhóm học sinh tham gia nghiên cứu. Trong đó, họ yêu cầu các bạn đọc một đoạn văn về vấn đề tiêu hóa. Đây là một đề tài các bạn học sinh này chưa được học qua. Sau khi đọc, nhóm học sinh thứ nhất được đọc thêm một tài liệu bao gồm các câu tóm tắt chương, và được yêu cầu tự giải thích thêm về những câu tóm tắt này (vd: tại sao em nghĩ câu nói trên là đúng?) Trong đó, nhóm thứ hai – nhóm kiểm soát, chỉ được yêu cầu đọc đoạn văn ấy hai lần.

Sau khi đọc, tất cả các bạn học sinh được kiểm tra trình độ về vấn đề vừa đọc. Bài kiểm tra bao gồm các câu vắn tắt về vấn đề tiêu hóa, và yêu cầu học sinh phải trả lời câu nói trên là đúng hay sai. Đây là những câu cả hai nhóm học sinh đều chưa được đọc qua. Kết quả của cuộc thí nghiệm cho thấy, nhóm thứ nhất thực hiện bài kiểm tra tốt hơn hẳn so với nhóm thứ hai chỉ đọc đi đọc lại đoạn văn hai lần.

Đọc thêm ở đây: Students’ comprehension of science textbooks using a question-based reading strategy (Smith & Holliday, 2010)

b) TỰ GIẢI THÍCH (SELF-EXPLANATION):

Tư giải thích là một phương pháp học trong đó yêu cầu học sinh phải tự theo dõi quá trình học tập và giải thích, miêu tả những đặc tính của việc học, nội dung vừa học. Thí nghiệm khoa học đã chứng minh được rằng đây là một trong những phương pháp giúp tối ưu hóa việc học.

Trong một cuộc thí nghiệm, Wong et al (2002) yêu cầu hai nhóm học sinh đọc và học một định lý toán học. Cứ sau khi đọc vài câu, nhóm thứ nhất được yêu cầu tự giải thích những gì họ vừa đọc. Trong khí đó, nhóm thứ hai được đề nghị chỉ cần “nghĩ trong đầu về những điều họ vừa đọc”. Sau khi học, cả hai nhóm thực hiện bài kiểm tra. Bài kiểm tra này không chỉ đặt ra những câu hỏi giống hệt như những thông tin học sinh vừa đọc (near transfer) mà còn yêu cầu học sinh áp dụng định lý trên để giái những bài toán có cùng quy tắc nhưng ở các dạng khác (far transfer).

Kết quả cho thấy, đối với những câu hỏi có nội dung tương tự như những gì học sinh đã đọc, cả hai nhóm học sinh đều hoàn thành tốt và có kết quả tương đương nhau. Tuy nhiên, đối với những bài toán đòi hỏi học sinh phải áp dụng định lý để giải đáp những vấn đề khó hơn, được trình bày dưới những hình thức phức tạp hơn, nhóm học sinh thứ nhất được yêu cầu tự giải thích khi học có kết quả tốt hơn hẳn nhóm học sinh thứ hai. Trong đó, nhóm một trả lời đúng 79% các câu hỏi, còn nhóm thứ hai chỉ trả lời đúng 69% các câu hỏi. Dựa trên kết quả này, các nhà nghiên cứu đã thảo luận rằng, khi chúng ta tích cực tham gia vào việc học, và tự suy nghĩ để đưa ra những giải đáp phù hợp thay vì học thụ động, chờ được người khác đưa ra đáp án, người học sẽ có thể hiểu rõ, nhớ lâu các kiến thức và có thể áp dụng kiến thực một các triệt để trong các tình huống khác biệt.

Đọc thêm ở đây: The effects of self-explanation training on students’ problem solving in high-school mathematics (Wong, Lawson, & Keeves, 2002)

Tóm lại, học tập là một quá trình đòi hỏi tính chủ động, và để học tốt, người học cần tự tạo ra cho mình những “khó khăn hữu ích”. Chúng ta đều biết rất nhiều học sinh học bằng cách gạch chân và highlight những câu quan trọng trong đoạn văn cần đọc. Tuy nhiên, đây là một phương pháp học thụ động và sẽ không thể giúp học sinh lưu trữ thông tin lâu dài để truy cập trong một tương lai xa. Vì vậy, highlight và gạch chân chỉ là bước đầu tiên.. Hơn nữa, khoa học cũng đã chứng minh rằng chúng ta nên dành bớt thời gian học và thay vào đó bằng thời tự kiểm tra trình độ bản thân. Kết quả nghiên cứu này không chỉ có ích cho học sinh, sinh viên, mà còn có lợi cho giáo viên. Các thầy cô nên vận dung phương pháp đánh giá quá trình học thường xuyên bằng cách đưa ra cho học sinh những bài kiểm tra ngắn hàng tuần. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh học tốt hơn, mà cũng sẽ cung cấp cho giáo viên thông tin về tình hình học của học sinh, ví dụ như những điểm học sinh đã nắm vững và những điều cần được giải thích thêm.

CPT chúc bạn thành công!

NĂM PHƯƠNG PHÁP HỌC TỐI ƯU
Bài viết liên quan
  • skills (1)
    QUẢN LÝ QUỸ THỜI GIAN HIỆU QUẢ...

    “Thời giờ ngựa chạy tên bay, Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm.” VÌ SAO BẠN CẦN KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN? Quản lý thời gian là một kỹ năng vô cùng quan trọng và đáng quý, được

  • literature-review-apa-format
    VIẾT LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU – LITERATURE REVIEW...

    (Sưu tầm) TẦM QUAN TRỌNG CỦA LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU (LR) LR có những chức năng như sau: Làm rõ lý do chọn câu hỏi nghiên cứu, lý thuyết, mô hình và phương pháp nghiên cứu bạn sử dụng trong

  • research-proposal-writing-service1-1
    VIẾT MỘT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU (RESEARCH PROPOSAL)...

    VIẾT MỘT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU (RESEARCH PROPOSAL) Đề cương nghiên cứu (RP) là một tài liệu ngắn nhà nghiên cứu viết để thông báo cho người khác về đề tài muốn nghiên cứu. Nói chung, RP là yêu cầu

  • stages-of-thesis-structure-jigsaw
    CẤU TRÚC CỦA MỘT LUẬN ÁN TIẾN SĨ...

    Cho dù bạn đang thực hiện một đề tài nghiên cứu ở bậc học nào (Cử nhân, Thạc sĩ hay Tiến sĩ), cấu trúc của một luận văn Thạc sĩ hay luận án nghiên cứu Tiến sĩ đều nên bao

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *